Trần Quốc Hậu
A. Đôi nét về chương trình TOEIC
TOEIC là từ viết tắt của Test of English for International Communication – là bài thi trắc nghiệm đánh giá khả năng tiếng Anh cho những người mà tiếng Anh không phải là người bản xứ (Anh, Mỹ, Canada, Úc v.v…). Chương trình TOEIC được đưa vào Việt Nam trong vài năm gần đây. Ngay lập tức TOEIC đã chứng minh được tính hiệu quả của nó. Các nhà tuyển dụng nhận thấy ngay đây là cái mà họ cần: tuyển dụng nhân sự cho các vị trí trong công ty của họ. TOEIC được các công ty cả trong nước lẫn nước ngoài sử dụng trong việc tuyển chọn nhân viên với những thang điểm cụ thể như sau:
Điểm Toeic trung bình tại 6 khu vực

Điểm Toeic và tiêu chuẩn đề bạt

Điểm Toeic tối thiểu xây dựng cho khách sạn 5 sao tại Bangkok - Thái Lan
Chương trình TOEIC được thiết kế nhằm đáp ứng yêu cầu đối với những người làm việc trong môi trường quốc tế. Nội dung các câu hỏi được phát triển dựa trên những tình huống ngôn ngữ nói và viết được thu thập trên nhiều quốc gia trên thế giới – những nơi mà tiếng Anh được sử dụng trong môi trường làm việc. Các câu hỏi thường được kết hợp nhiều ngữ cảnh và tình huống khác nhau, ví dụ như:
- Thương mại: Hợp đồng, đàm phán, tiếp thị, tiêu thụ, kế hoặc kinh doanh, hội nghị.
- Sản xuất: Quản lý sản xuất, dây chuyền lắp ráp, quản lý chất lượng.
- Tài chính và ngân hàng: Ngân hàng, đầu tư, thuế, kế toán, chứng từ.
- Hợp tác – phát triển: Nghiên cứu, phát triển sản phẩm.
- Văn phòng: Họp, hội thảo, thư từ, bản ghi nhớ, điện thoại, fax và e-mail, thiết bị văn phòng, thủ tục hành chánh.
- Nhân sự: Tuyển dụng, thuê, nghỉ hưu, đề bạt, xin việc và quảng cáo.
- Du lịch: tàu hỏa, máy bay, taxi, buýt, thuyền… .
Khác với TOEFL thiên về học thuật (academic), TOEIC thiên về môi trường làm việc. TOEFL cần thiết cho những nhà nghiên cứu hay sinh viên muốn du học ở Mỹ vì lãnh vực mà họ nghiên cứu và làm việc khá sâu. TOEFL và TOEIC nhằm hai mục đích khác nhau. Phần nghe của TOEFL bắt người học phải suy luận để tìm câu trả lời, trong khi đó thì TOEIC tương đối không cần phải suy luận nhiều. Có lẽ chính vì điều này mà ngay cả học viên lẫn giáo viên cho rằng TOEIC dễ học hơn TOEFL. Thực tế cho thấy học viên chỉ cần học cuối trình độ sơ cấp là có thể tiếp tục rèn luyện phần Nghe và Đọc hiểu của TOEIC.
B. Những ưu điểm của chương trình TOEIC
- Đánh giá khách quan kỹ năng sử dụng tiếng Anh.
- Xây dựng tiêu chuẩn có thể định lượng về kỹ năng sử dụng Anh ngữ.
- Độ tin cậy vì kết quả luôn chính xác và nhất quán.
- Chi phí hợp lý.
- Tổ chức thi linh hoạt, đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng.
- Thông báo kết quả trong thời gian ngắn (3 – 5 ngày)
- Được công nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế trong việc đánh giá trình độ Anh ngữ.
- Có số lượng người tham gia đông nhất thế giới.
- Giúp các nhà quản lý, đào tạo dự kiến được thời lượng và khối lượng đào tạo cần thiết cho từng trình độ ở từng vị trí công tác cụ thể.
- Cung cấp một thang điểm liên tục cho phép giám sát và so sánh sự tiến bộ về trình độ Anh ngữ của từng thí sinh.
- Chú trọng đánh giá sử dụng tiếng Anh thực tế.
TOEIC được 6,000 tập đoàn trên thế giới sử dụng; 4,3 triệu người thi TOEIC năm 2003 và chiếm khoảng 70% thị phần các chương trình kiểm tra tiếng Anh trên thế giới. Các doanh nghiệp Việt Nam như Vietnam Airlines, hàng không Pacific, Techcombank, Ngân hàng Bangkok, Sài Gòn Thương tín, Ngân hàng TMCP Quân đội và hàng chục công ty khác đã bắt đầu sử dụng TOEIC như một phương cách tuyển chọn nhân viên. Nói chung đây là một chương trình kiểm tra trình độ Anh ngữ đáng tin cậy.
C. TOEIC trong công tác đào tạo của nhà trường
Không có giáo trình nào được sử dụng sau 10 năm mà không có sự thay đổi. Ít ra nếu còn được sau thời gian đó thì giáo trình đó phải được bổ sung để thích hợp với sự thay đổi của xã hội. Điều này đặc biệt đúng với tiếng Anh, một sinh ngữ. Nó cần sự thay đổi để tồn tại trong một xã hội thay đổi từng giờ mà chúng ta hiện đang sống. Lấy chương trình Streamline làm ví dụ. Chương trình Streamline được đưa vào sử dụng vào năm 1878, 79. Một bộ Streamline English (tiếng Anh của người Anh) và một bộ American Streamline (tiếng Anh của người Mỹ). Sau 10 năm thì tác giả cho ra đời New American Streamline nhằm cập nhật thêm một số thông tin mới như kiến thức về máy vi tính trong cuốn Destinations và nhân vật trong các cuộc đối thoại cũng được tác giả thể hiện qua nhiều nhân vật với nhiều chủng tộc khác nhau thể hiện đặc thù xã hội đa chủng tộc ở Mỹ.
Công tác đào tạo là công tác không chỉ đơn thuần là giảng dạy những giáo trình có sẵn mà còn phải biết dự đoán nhu cầu xã hội để việc đào tạo không bị lãng phí: lãng phí tiền bạc và thời gian. Phải xem đây là một sự lãng phí cực lớn cho bản thân người học và cho xã hội. Mọi thứ trôi đi theo thời gian cho đến khi có sự phản ứng của xã hội thì lúc đó mới nghĩ đến điều chỉnh cho phù hợp trong một chừng mực nào đó. Điều này không thích hợp với người làm công tác giáo dục vì họ phải là những người đi trước những người khác, ngành giáo dục phải là một ngành phải đi trước các ngành khác. Có như thế thì giáo dục mới thực sự có hiệu quả cao để đáp ứng yêu cầu xã hội. Có lẽ nhiều năm nữa ngành giáo dục mới có thể là ngành đi trước các ngành khác được. Những người có trách nhiệm với ngành giáo dục nước nhà phải làm sao là những người có trình độ chuyên môn và tâm huyết trong công tác giảng dạy của mình. Cấp dưới phải tham mưu cho cấp trên để cấp trên có thể có cái nhìn tổng thể về kế hoạch giảng dạy xem chỗ nào bất hợp lý thì điều chỉnh sao cho có kết quả tối ưu. Cần lắng nghe (listen, không phải obey) ý kiến cấp dưới vì họ là những người trực tiếp giảng dạy cho nên họ thường là những người phát hiện những bất hợp lý và có những đề xuất có giá trị.
Là người làm công tác giảng dạy trực tiếp, giáo viên cần bổ sung, điều chỉnh sao cho giáo trình mà mình giảng dạy phải đúng yêu cầu của nhà trường song song với nó là sự cập nhật những kiến thức bổ sung để học viên có thể sử dụng những kiến thức mà họ học được trong công việc sau khi ra trường. Thí dụ: chương trình TOEIC có thể áp dụng phần Nghe và Đọc hiểu cho học viên đã qua trình độ sơ cấp. Tự nâng cao chuyên môn để phục vụ cho công tác giảng dạy là ý thức và cũng là sự tự trọng của người người làm công tác giảng dạy. 20 năm trước giáo trình giảng dạy còn nhiều thiếu thốn, ngày nay không phải là đủ nhưng cũng tương đối gọi là tốt cho người làm công tác giảng dạy. Thiết nghĩ nếu không đủ thì một giáo viên cũng phải biết xoay sở với những gì có sẵn để hoàn thành công tác được giao. Giáo viên là những người được đào tạo chính qui, đào tạo theo trường lớp, là những nhà giáo chuyên nghiệp mà hễ là chuyên nghiệp thì không được nói KHÔNG cho dù ở trong hoàn cảnh khó khăn đến mấy đi chăng nữa. Tuy nhiên yêu cầu tối thiểu phục vụ cho công tác giảng dạy là cần thiết để bảo đảm tính hiệu quả.
Bổ sung các thiết bị giảng dạy mới là một việc làm cực kỳ cần thiết, đóng một vai trò khá quyết định trong sự thành, bại của công tác giảng dạy. Thiết bị không thích hợp (thí dụ: loa dành cho hội trường nơi có nhiều người lại sử dụng cho phòng học nhỏ nơi có ít người). Thiết bị mới còn giúp giáo viên và người học tiếp cận được sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Nói như thế không có nghĩa là không có những thiết bị này thì công tác giảng dạy không thể tiến hành được. Ngược lại là người làm công tác giảng dạy phải biết sử dụng những cái có sẵn để thực hiện cho bằng được nhiệm vụ được giao. Xin lấy một ví dụ để nói cho rõ. Truớc đây khi thiếu điện vào tháng nắng thì những người chịu trách nhiệm của ngành điện bảo thiếu điện vào mùa khô là do trời nắng thiếu nước; vào tháng mưa khi nước dư thừa mà cũng thiếu điện thì họ lại bảo tại đường dây bị đứt do mưa. Nói như vậy thì ai cũng làm giám đốc công ty điện lực được mà lãnh đạo là người phải làm được những điều mà người thường không làm được thì mới là lãnh đạo. Là giáo viên cũng phải ứng phó trong mọi hoàn cảnh để công tác giảng dạy được tốt nhất.
Khách du lịch ngày càng khó tính. Họ đi du lịch có nhiều mục đích khác nhau không chỉ đơn thuần là giải trí. Nếu là một nhà khảo cổ đi du lịch chắc chắn họ sẽ muốn biết nơi họ đến có những đặc điểm khảo cổ nào đó; nếu là một nhà ngôn ngữ đi du lịch chắc chắn họ sẽ thích thú và thấy chuyến đi có giá trị nếu người hướng dẫn họ cho họ biết địa danh mà họ tới có ý nghĩa ra sao, có nguồn gốc như thế nào. Theo thiển ý nên chia ngành du lịch ra thành nhiều chuyên ngành nhỏ hơn như: Hướng dẫn viên du lịch chuyên về kiến trúc như chùa chiền, nhà thờ, tháp, lăng tẩm v.v…, Hướng dẫn viên du lịch chuyên về quân sự (đây có lẽ là HDV đặc thù của nước ta vì trải qua nhiều cuộc chiến tranh mà gần đây nhất là chiến tranh chống Pháp, Mỹ rất nhiều khách du lich đến Việt Nam là cựu chiến binh hoặc những người muốn tìm hiểu về cuộc chiến tranh này muốn được giải thích một cách cặn kẽ sâu sắc nơi địa danh mà họ đến tham quan), HDV chuyên về địa lý, lịch sử v.v... . Hễ đoàn khách nào có nhu cầu chuyên biệt sẽ có hướng dẫn viên chuyên biệt hướng dẫn. Việc làm tuy khó vì hoặc phải kéo dài thời gian học, hoặc phải đi vào chuyên môn một thời gian vào năm cuối. HDV nào thì phải có kiến thức về lãnh vực đó một cách sâu sắc, có khả năng đáp ứng những nhu cầu về kiến thức mà khách du lịch mong muốn. Có thế thì ngành du lịch Việt Nam mới có khả năng cạnh tranh với các nước khác còn nếu cứ tiếp tục như hiện nay thì khách du lịch vẫn chưa thể nói là hài lòng được. Những người có trách nhiệm về du lịch của đất nước cần thiết có sự quan tâm đến những điều này. Lãnh đạo nhà trường cũng đề xuất với ngành và lãnh đạo cấp cao hơn, xem như gợi ý hoặc hiến kế hay cố vấn cũng được. Hiểu theo nghĩa nào cũng được miễn là có trách nhiệm với ngành là điều đáng trân trọng. Hơn nữa cũng thể hiện được vai trò tiên phong của ngành giáo dục là ngành luôn có tầm nhìn xa và rộng, dự đoán được nhu cầu xã hội để đáp ứng.
D. Hội thảo về TOEIC tại Hà Nội
Cuộc hội thảo ngày 29/3/2005 vừa qua tại Hà Nội về việc ứng dụng “TOEIC trong Du lịch”. Khó có thể nhận thấy đây là một cuộc hội thảo ứng dụng TOEIC trong du lịch vì những lý do sau đây:
1. Không có một giáo trình tiếng Anh nào (kể cả trong nước và nước ngoài) cho đến thời điểm hiện nay có thể nói một cách đầy đủ về du lịch Việt Nam về mọi lãnh vực văn hóa, kiến trúc, tập quán xã hội, phong tục v.v… . Có chăng là những bài học có tính chắp vá lấy ở chỗ này một ít, chỗ kia một ít; chuyển ngữ từ Anh sang Việt hoặc ngược lại. Việc làm này khó bảo đảm tính chính xác tuyệt đối vì giữa hai ngôn ngữ luôn tồn tại sự bất đồng. Để có được một giáo trình du lịch nói chính xác, đầy đủ, sâu sắc về một đất nước thì phải do những người có trình độ chuyên môn cao về đất nước đó viết và biên soạn. Tiếc rằng chúng ta cho mãi tới bây giờ vẫn chưa làm được điều này vì hễ giỏi ngoại ngữ thì không giỏi về kiến thức du lịch, và ngược lại. Điều tiếc là cho dù có sự kết hợp giữa hai bên thì cũng chưa gọi là hoàn chỉnh. Nếu làm được điều này thì mới có thể gọi là một giáo trình du lịch hoàn chỉnh. Từ đó sẽ biên soạn thêm giáo trình du lịch Việt Nam bằng các thứ tiếng khác. Ngành du lịch thành phố nói riêng và ngành du lịch cả nuớc nói chung chắc chắn sẽ khác nếu làm được điều kể trên.
2. Trường Cao đẳng Văn hóa - Nghệ thuật TP.HCM có khoa Văn hóa - Du lịch, có tổ ngoại ngữ, có đội ngũ giáo viên có chuyên môn về nhiều lãnh vực như: xã hội, phong tục tập quán, địa lý, lịch sử, v.v… hoàn toàn có khả năng biên soạn được một giáo trình dành cho sinh viên ngành du lịch bằng ngoại ngữ làm nền tảng cho công tác đào tạo của khoa Văn hóa - Du lịch của nhà trường nói riêng và có thể của thành phố và xa hơn nữa là cả nước. Lãnh đạo nhà trường sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc tập hợp giáo viên để thực hiện điều này: phân công bộ phận nào chịu trách nhiệm phần nào, bao giờ hoàn thành, kiểm tra độ chính xác về tư liệu sử dụng v.v… . Có thể sẽ khó nhưng không thể nói không làm được vì đó là cũng là một trong những nhiệm vụ của công tác đào tạo của trường: giảng dạy và nghiên cứu, nghiên cứu để ứng dụng lại vào giảng dạy. Có thể mất vài năm để làm được điều này, nhưng việc làm này hoàn toàn có gía trị. Nếu làm được thì đó là việc làm này đầy tính thuyết phục vì nó chứng minh rằng Học đi với hành, còn ngược lại nếu không làm được thì ai sẽ làm được, vì lý do gì mà ta không làm được; ngoài ra nếu không làm được thì liệu việc giảng dạy của chúng ta có tính thuyết phục và thực sự đáp ứng nhu cầu xã hội không?